CÀ MAU

1. Hội Thân Hữu Cà Mau, Cali.

Ban Chấp Hành:

Hội Trưởng: Trần Tiến Trác.                                                            Phó Nội Vụ: Huỳnh Kỳ Liệt.

Phó Ngoại Vụ: Vỏ Thành An.                                                           Thường Vụ: Trần Quang Vinh.

Tổng Thơ Ký: Trần Vinh Quang.                                                      Thủ Quỷ: Lê Như Nguyện.

Ban Cố Vấn

Ban Giám Sát

Ban Chấp hành

Xã Hội

Tài Chánh

Phụ Nữ

Giao Tế

Văn Nghệ

Nguyễn Hải

Nguyễn Tấn Nghiêm

Trần Tiến Trác

Nguyễn Văn Lợi

Lê Như Nguyện

Mai Kim Yến

Nguyễn Văn Tây

Nhạc sỹ Phù Sa

Nguyễn Tây

Nguyễn Văn Lợi

Huỳnh Kỳ Liệt

Nguyễn T. Dần

Mã Hứa

Dương Kim Hương

Vỏ Thành An

Trần Quang Vinh

Lâm Quan

Nguyễn Thanh Dần

Vỏ Thành An

Nguyễn Văn Hải

 

Dương Bích Phương

Huỳnh Kỳ Liệt

Nguyễn Công Huân

Võ An

Nguyễn Văn Môn

Trần Quang Vinh

Lâm Quan

 

Dư Hồng Phụng

 

Nguyễn Kim Lành

 

 

Lê Như Nguyện

 

 

Thái Thanh Giới

 

Nguyễn Văn Tây

2. Ðịa Lý.

Diện tích: 5.204 km2 (2033 sq miles). Dân số (01/04/1999): 1.117.829 người. Tỉnh lỵ: Thành phố Cà Mau. Các huyện: Đầm Dơi, Ngọc Hiển, Cái Nước, Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình. Dân Tộc: Việt (Kinh), Hoa, Khmer, Chăm.

Cà Mau là tỉnh cực nam của tổ quốc, có 3 mặt giáp biển với 307 km (192 miles) bờ biển. Phía bắc giáp Kiên Giang, phía đông bắc giáp Bạc Liêu, phía đông và đông nam giáp biển đông, phía tây và tây nam giáp Vịnh Thái Lan.

Cà Mau là vùng đất mới bao gồm: đất phèn, đất mặn, đất than bùn và đất bãi bồi tạo nên những cánh đồng màu mỡ. Cà Mau có mạng lưới sông ngòi chằng chịt, 7 sông chính là sông Ông Đốc, Bảy Háp, Cái Lớn, Gành Hào, Dầm Dơi, Trèm Trẹm, Bạch Ngưu tạo thành các cửa sông lớn. Ngoài biển Cà Mau còn có đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối. Nhờ có bờ biển dài, khả năng đánh bắt cá tôm của Cà Mau rất lớn. Nơi đây phát triển nhiều hồ nuôi tôm.

Cà Mau nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 8, các tháng khác ít mưa. Lượng mưa trung bình ở Cà Màu 2.500 mm/năm (99 in/năm). Nhiệt độ trung bình năm khoảng 26 -27 ° C.

Giao thông: đường bộ số 4 từ Cần Thơ, Sóc Trăng xuống, qua Bạc Liêu (114 km (71 miles)), Cà Mau (180 km (112 miles)), từ Cà Mau đến Năm Căn (qua Cái Nước) 55 km (34 miles). Đường thứ 2 từ Cà Mau lên Rạch Giá 130 km (80 miles). Cà Mau có nhiều sông và mạng lưới kênh rạch chằng chịt nên đi lại và vận chuyển bằng ghe thuyền rất thuận tiện. Ngay trong rừng đước, rừng tràm, thuyền đi chỗ nào cũng được.

Vùng đất tận cùng của tổ quốc là một bức tranh hài hòa giữa rừng và biển, với một quần thể động thực vật phong phú, nhiều phong cảnh đẹp như cụm đảo Hòn Khoai, Hòn Đá Bạc, những sân chim tự nhiên như sân chim Ngọc Hiển, Đầm Dơi, Cái Nước, rừng tràm U Minh, rừng đước với nhiều loại động vật quí hiếm của khu sinh thái rừng ngập mặn như heo rừng, trăn, kỳ đà, khỉ. Ngoài

        3. Thắng cảnh.

        Rừng U Minh: Rừng U Minh sát Vịnh Thái Lan, trải ra mênh mông từ sông Đốc (phía nam) đến Rạch Giá (phía bắc). Phần trên là U Minh Thượng, phần dưới là U Minh Hạ. Giữa U Minh Thượng và U Minh Hạ là sông Trẹm và sông Cái Tàu. Nơi đây thiên nhiên hùng vĩ và hoang sơ, chủ yếu là cây tràm mọc khắp nơi. Xen vào đó chỉ có một ít loại cây thân thảo hoang dại. Suốt ngày rừng U Minh luôn tối. Cây tràm nhỏ thấp hơn cây đước, vỏ cây xốp và trắng, gỗ bên trong rắn chắc. Thân cây cao đến 20 m (60 ft), tán lá tràm thưa, lá thon nhỏ. Cây tràm có thể sống 25 - 30 năm. Lúc đó nó trở thành cây cổ thụ, gỗ có thể dùng làm nhà. Mùa khô, trái tràm rụng xuống đất và đến mùa mưa, cây tràm con đã lên xanh tốt. Hạt tràm có thể nằm tại khu đất cháy 5 - 10 năm, sau nếu có điều kiện có thể nảy mầm thành cây con. Hương tràm có mùi hương dịu như hương sen, mật ong. Hương tràm là một sản phẩm được nhiều người ưa thích.

Sân Chim Ngọc Hiển: Nằm trong huyện Ngọc Hiển, huyện cuối cùng của Cà Mau và cũng là mảnh đất tận cùng của đất nước, sân chim Ngọc Hiển có diện tích tự nhiên rộng 130 ha. Là một trong những sân chim tự nhiên lớn nhấtt nước, sân chim Ngọc Hiển có dòng sông Bảy Háp chảy qua cùng với hệ thống kênh ngòi chằng chịt, với thảm thực vật phong phú và xanh tươi quanh năm đã là môi trường thiên nhiên trong lành chưa bị con người hủy hoại, nơi trú ngụ của các loài chim bay đến hàng năm. Sân chim Ngọc Hiển là điểm du lịch sinh thái và nghiên cứu về các loài chim trong môi trường sinh thái tự nhiên được bảo vệ tốt của Cà Mau.

Chùa Hưng Quảng: Tọa lạc ở số 26 đường Phan Ngọc Hiển, thành phố Cà Mau. Chùa được dựng từ những năm 1950 thuộc Tịnh Đô Cư Sỉ Phật hội Việt Nam, và được trùng tu năm 1963. Trong chùa có lập phòng thuốc nam Phước Thiện từ năm 1954 và đã hoạt động cho đến ngày nay.

Đình Tân Hưng: Cách thành phố Cà Mau 4 km (2.5 miles) về phía nam, trên tuyến kênh rạch Rập, đường đi huyện Cái Nước, thuộc địa phận xã Lý Văn Lam thành phố Cà Mau. Đình xây dựng năm 1907, trải qua thời chiến tranh, đình bị hư hỏng toàn bộ. Trên nền đó, người dân địa phương cho dựng một ngôi đình khác nhỏ hơn, nền xây bằng đá hộc, mái lợp ngói máng. Mặt trước là hàng bốn cột xi măng. Dưới các chân cột được kê bằng đá tảng. Cấu trúc mái hình bánh ít, trên nóc đúc hai rồng chầu.

         4. Mũi Cà Mau và Bãi Bùn.  (Nghệ Văn Lương).

         Chung quanh mũi Cà mau và Bãi Bùn, dọc theo mé biển bùn lộn với cát (phù sa), vẫn tiếp tục bồi lấp bờ biển không ngừng. Tại bãi bùn nhất là lúa mùa hạn thổi, nước bùn biển Nam hải phụ thêm vào nước trộn đất phù sa của sông Cửu Long chảy xuống mũi Cà mau gặp dòng nước bên Vịnh Thái lan chảy qua làm cho mũi nầy và Bãi Bùn trước kia rộng mênh mông nay hẹp lại và chỉ là một bãi lài. Theo tài liệu trong địa đồ in năm 1904 và nhiều hình ảnh do máy bay chụp sau nầy, chúng ta thấy từ cửa Gành Hào đến vàm rạch Ðường Kéo, đã mất một nửa thửa đất chạy theo mé biển lối 4 ngàn thước tính ra trung bình, mổi năm lở 90 thước, bởi các lý do sau đây:

Như thế trong bảy tám chục năm nửa, mũi Cà mau và bãi Bùn sẽ là một vùng cây mọc um tùm nhờ đất bồi thêm. Bằng chứng là vào năm 1935, ông Moquillon, giám đốc công ty Thủy lâm Cà mau, đi từ Ông Trang đến rạch Tàu, cách mũi Cà mau vài cây số, theo mé biển, phải dùng một chiếc ghe biển nhỏ, vì tầm sâu nước có 1 thước 35 mà thôi, Còn hiện bây giờ, thì chỉ dùng xuồng có thâm hạ 0 thước 50 là nhiều.

Một yếu tố quan trọng nửa làm cho Bãi Bùn ngày một lấp thêm mau, là mạng nhện rạch ở vùng bán đảo Cà mau, lúc nước ròng, chảy ra biển, xuyên qua nhiều giáp nước và lưng tôm (dos d'ane), hai bên mé biển dày đặc cây cối, nhứt là rể cây mấm ăn bám xuống đất nên dòng nước bị giảm tốc độ, thành thử đất bùn lắng xuống vàm ở Bãi Bùn. Trái lại cũng theo hình ảnh chụp trên máy bay, trong tháng giêng 1949, khi dòm xuống người ta thấy từ cửa sông Gành Hào đến vàm rạch Ðường Kéo, mé biển như là một cái áo bị xé xơ xác, đó là gió thổi và nước chảy mạnh làm bờ bị lở một ngày thêm; lở cho đến đổi trước kia có một số cù lao nhỏ nay đã tiêu mất hết. Nhiều chổ lở sâu vô, bực trung là 4 cây số đôi khi đến 6, 7 cây số, trong thời gian trên 60 năm. Cũng trong khoảng mé biển nói trên, qua mùa hạn, người ta thấy nhiều lượn sóng to dài đến 35 thước.

Trái lại từ vàm rạch Ðường Kéo đến mũi Cà mau, và đi luôn qua mé vịnh Thái lan, thì đất bồi không có chổ nào lở cả, vì gió mùa thổi không mạnh, dòng nước không chảy mau, và cũng nhờ dọc theo mé biển có nhiều cây mấm trắng, rể mấm cầm đất lại. Bồi nhiều nhất là từ mũi Ông Trang đến cửa sông Bảy Háp. Tóm lại, đất lở ở phía bên biển Nam hải được bù trừ lại phía bên vịnh Thái lan, tại mũi Cà mau và Bãi Bùn, là hai nơi mà rừng vẹt đước trù phú đã mọc lên từ 30 năm nay và đã qui tụ một số đông dân cư sống về nghề làm củi. Xem địa đồ tỉnh An Xuyên, ta thấy mũi Cà mau nhô ra ngoài biển cả, phía Ðông và Nam là biển Nam hải, phía Bắc là vịnh Thái lan. Nhưng khi bước chân đến nơi hoặc trên máy bay dòm xuống, thì thấy rỏ ràng là mũi không còn hình nhọn: chỉ thấy một dãy đất bề ngang lối 4 cây số, có một vũng eo bị đất phù sa bồi cạn một ngày một ít như ở bãi Ông Trang. Ðứng trên mũi nầy, thấy 2 xóm: ấy là xóm Mũi và xóm rạch Tàu, cách mé biển lối 600 thước. Còn cách xóm Mũi, hướng mắt về phía Ðông, lại thấy một bãi cát chạy dài theo Rẫy Chệc, ngó ra khơi thì thấy Hòn Khoai xanh um, nằm giữa trời nước mênh mông.

Khi nước chảy lớn nhiều đoàn ghe lưới ngoài khơi chạy buồm về phía rạch Gốc và rẫy Chệc hoặc về xóm Mũi, hoặc vô rạch Tàu về xóm. Ghe nào cũng chở đủ thứ cá biển: cà bóng mú, cá vượt, cá rô biển, cá hường, cá chét, cá gộc và tôm xì buối đễ làm tôm lụi. Chim nhạn sen, ban ngày sấp hàng đi tới đi lui, rượt bắt cá thòi lòi, con còng và con dã tràng. Ðứng ở xa, người ta tưởng như thấy một đoàn lính đang diễn binh và xấp hàng đi tới. Khi đêm tối đến, kễ từ tháng 8 dương lịch thì quang cảnh mũi Cà mau thay đổi nhiều và không khí trở nên mát lạnh: gió biển thổi rào rạt vào bờ và dồn muỗi vào rừng cấm. Trong rừng trên cành cây, hàng triệu con đom đóm nhấp nhoáng coi rất đẹp mắt, trong khi tiếng dế rầu rĩ, hòa lẩn với tiếng sống vỗ và tiếng kêu chát chúa của loài chim ăn đêm.

Cà Mau Xưa và An Xuyên Nay.

Cà mau do tiếng Miên "Tuc Khmau" nghĩa là nước đen gọi trại là "Khmâu" thành ra Cà mau. Thật vậy trong rừng U Minh, gòm Cán Gáo, Tân Bằng, Trèm Trẹm, Cái Tàu và phía bên hữu ngạn sông Ông Ðốc, có nhiều "dớn", loại ráng thấp có xen mây dóc và dây choại, nước ngập quanh năm, chảy ngang qua rừng cấm đầy lá mục như, dừa nước, tràm, gừa, ráng, lát, sậy, năng, cỏ nước mặn vân vân...nên nước màu vàng như nước trà đậm, nhiều khi đen, hôi và chua, vì có phèn.

Vùng đất Cà mau ngày nay, nguyên là lãnh thổ nước Phù Nam, rồi sau đó của Thủy Chân Lập, của vương quốc Cao miên. Mãi đến nay, chưa ai tìm thấy di tích nào đáng kễ về đền đài, pho tượng của người xưa đễ lại tại vùng nầy. Cuối thế kỷ thứ 17, Mạc Cửu dẫn một số người Trung Hoa bài Mãn phục Minh, đến Hà tiên, chiêu tập đám lưu dân, lập nên 7 xã dọc theo bờ biển, 2 xã ở phía cực Nam là Rạch giá và Cà mau. Năm 1714, Mạc Cửu dâng phần đất này cho Chúa Nguyễn. Mạc Thiên Tứ, con Mạc Cửu chỉnh đốn cơ nghiệp của cha và vâng lệnh triều đình lập ra đèo Long Xuyên, ở vùng Cà mau hiện nay, có tánh chất tổ chức quân sự. Năm Gia Long thứ 7, (1808), đổi ra huyện Long Xuyên, năm Minh Mạng thứ 6, (1825), đặt một tri huyện đễ cai trị. Vùng Cà mau có địa thế tốt, giúp vua Gia long ẩn nấu và làm bàn đạp đễ qua Xiêm cầu viện. Vài nhân vật sinh trưởng ở Cà Mau đã lập công giúp vua phục quốc: Ngô Văn Lựu, Trần Phước Chất, Ngô Công Quí, và một nhân vật lỗi lạc khác, Dương Công Trừng.

Ðến khi Nguyễn Ánh bị Tây Sơn đánh đuổi chạy đến vùng Cà mau thì Ngài đã ẩn trú tại:

Thưở xưa dân Cao miên lần lượt đến ở miệt Cà mau khá đông đảo. Hiện giờ tại nhiều nơi, họ còn ở từ "sốc", như sốc Ông Muộn (xã Phong Lạc), Rạch Giồng (xã Tân Lợi), Ðầu Nai (xã Tân Phú), Rạch Cui (xã Khánh Bình), và Giồng Nổi (xã Tân Thuận). Việc cai trị vào thời ấy, giao cho một quan Miên, đến sau thời cuộc thay đổi, khi vị Tổng đốc Miên bị bại binh thì quyền hạn giao lại cho người Việt nam.Thường thường cai trị quận là một Ông Huyện, như Ông Huyện Nguyễn Hiền Năng. Dưới triều vua Tự Ðức, vào khoảng năm 1868-1869, Ông Huyện Năng đang trấn nhậm tại Cà mau, bị người Tàu họ Quách do bọn phủ Liếm cầm đầu (chức phủ lúc ấy cũng nh7 ban trưởng bây giờ), nổi lên giết ông và vợ con ông. Qua thời Pháp thuộc, từ khi Cà mau thuộc về tỉnh Bạc liêu, thì chính phủ thường bổ nhiệm đến một ông phủ, hoặc một ông đốc phủ sứ làm chủ quận. Ông quận đầu tiên là ông phủ Y, kế tiếp là ông phủ Trương ngọc Báu, ông đốc phủ Trứ, sau rốt là ông đốc phủ sứ Trần quang Phước, chết tại nhà quận, năm 1909. Lần lần, Cà mau trở nên thị tứ, có viên quan người Pháp, kiểm soát từ Cà mau đến Bạc liêu. Do sắc lệnh số 32 NV ngày 09/03/1956, quận Cà mau chính thức trở thành tỉnh An Xuyên. An xuyên chính là tên của làng sở tại, trước kia thuộc về Tổng Quan long, đặc tại Tắc Vân, cách tỉnh lỵ 12 cây số 1,200 trên quốc lộ Cà mau - Sài gòn. Còn xã sở tại lấy lại tên củ, là Tân Xuyên, như trước năm 1900. (Lương văn Nghê.